Từ thực tiễn đầu tư và xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe kết hợp nghỉ dưỡng, chúng tôi nhận thấy Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch y tế và du lịch chăm sóc sức khỏe thành một ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Nếu được định hướng đúng và tổ chức đồng bộ, lĩnh vực này không chỉ góp phần nâng cao năng lực, vị thế của y tế Việt Nam và thu hút khách quốc tế, mà còn tạo động lực phát triển du lịch, dịch vụ, việc làm và kinh tế địa phương.
Thực tiễn xây dựng mô hình y tế – chăm sóc sức khỏe – nghỉ dưỡng cho thấy nhu cầu hình thành một hệ sinh thái du lịch y tế đồng bộ.
Sau khi nghiên cứu Dự thảo Đề án Phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026–2030 và đối chiếu với thực tiễn xây dựng mô hình tích hợp y tế – phục hồi chức năng – chăm sóc sức khỏe – nghỉ dưỡng, chúng tôi cơ bản thống nhất với quan điểm, mục tiêu và năm nhóm nhiệm vụ, giải pháp của Đề án. Dự thảo đã tiếp cận tương đối toàn diện và nhận diện đúng những điểm nghẽn chủ yếu về thể chế, thị thực, thanh toán và bảo hiểm quốc tế, tiêu chuẩn chất lượng, nguồn nhân lực, dữ liệu và sự liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng.
Tuy nhiên, thách thức cốt lõi hiện nay không chỉ nằm ở từng quy định riêng lẻ mà ở sự thiếu thống nhất trong quản lý toàn bộ hành trình của khách du lịch y tế. Các hoạt động khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, chăm sóc sức khỏe, lưu trú, nghỉ dưỡng, lữ hành, vận chuyển và bảo hiểm đang được điều chỉnh theo các hệ thống pháp luật và đầu mối quản lý khác nhau, trong khi khách hàng lại tiếp cận và sử dụng chúng như một hành trình dịch vụ thống nhất.
Vì vậy, Đề án cần vượt ra khỏi cách tiếp cận phát triển từng dịch vụ đơn lẻ để hình thành một hệ sinh thái du lịch y tế có định vị cạnh tranh rõ ràng, tiêu chuẩn phù hợp với từng loại hình, cơ chế điều phối xuyên suốt và trách nhiệm minh bạch giữa các bên.
Kết nối chuyên môn và hợp tác quốc tế là một trong những nền tảng để nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của du lịch y tế Việt Nam.
Trên cơ sở đó, nhằm giúp Đề án tập trung đúng lợi thế quốc gia và tạo hành lang vận hành khả thi cho các mô hình triển khai, chúng tôi đề nghị nghiên cứu, hoàn thiện một số nội dung sau:
1. Phân định ba nhóm sản phẩm du lịch sức khỏe
Phần thứ nhất, Mục I về khái niệm; Phần thứ hai, Mục III về phạm vi, đối tượng; Phần thứ ba, Mục 1.a và Mục 2.a.
Dự thảo hiện phân thành hai nhóm: du lịch y tế (medical tourism) và du lịch chăm sóc sức khỏe (wellness tourism). Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng cách phân loại này chưa phản ánh đầy đủ một nhóm dịch vụ nằm giữa điều trị bệnh và nghỉ dưỡng thuần túy, gồm phục hồi sau điều trị, quản lý bệnh mạn tính, chăm sóc người cao tuổi, quản lý cân nặng, stress, giấc ngủ và phục hồi sức khỏe dài ngày. Nhóm này không phải điều trị cấp tính nhưng vẫn cần bác sĩ sàng lọc, xây dựng chương trình, theo dõi kết quả và xử lý rủi ro; đồng thời phần lớn dịch vụ lại diễn ra trong môi trường lưu trú, nghỉ dưỡng. Nếu xếp hoàn toàn vào du lịch y tế sẽ dễ áp dụng các điều kiện của mô hình bệnh viện một cách cứng nhắc.
Vì vậy, chúng tôi đề nghị phân thành ba nhóm:
(1) Du lịch khám, chữa bệnh: Mục tiêu chính là chẩn đoán, điều trị, phẫu thuật, thủ thuật hoặc kỹ thuật chuyên môn; phải do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện thực hiện.
(2) Du lịch phục hồi và quản lý sức khỏe có giám sát y tế: Gồm phục hồi sau điều trị, quản lý bệnh mạn tính, giấc ngủ, stress, chuyển hóa, chăm sóc người cao tuổi và y học cổ truyền kết hợp nghỉ dưỡng. Cơ sở y tế chịu trách nhiệm chuyên môn; cơ sở lưu trú và nghỉ dưỡng cung cấp dịch vụ hỗ trợ.
(3) Du lịch chăm sóc sức khỏe: Mục tiêu chính là thư giãn, duy trì và nâng cao sức khỏe thông qua nghỉ dưỡng, spa, yoga, thiền, dinh dưỡng và vận động; không thực hiện hoặc quảng bá chẩn đoán, điều trị bệnh khi không đủ điều kiện.
Việc phân loại phải dựa trên mục tiêu, nội dung chuyên môn và mức độ rủi ro, không dựa vào tên thương mại của sản phẩm. Cách phân thành ba nhóm vừa bảo đảm quản lý đúng trách nhiệm, vừa tạo hành lang phát triển nhóm phục hồi, quản lý sức khỏe, nghỉ dưỡng, vốn có thể trở thành lợi thế cạnh tranh riêng của Việt Nam.
2. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn theo mục tiêu và loại hình cơ sở
Phần thứ hai, Mục II.2.b về chất lượng; Phần thứ ba, Mục 1.c về cơ chế quản lý chất lượng, Mục 3.c về bảo đảm chất lượng và an toàn người bệnh; cụ thể hóa tại Phụ lục 1, nhiệm vụ số 6, 17 và 21.
Dự thảo đã đề cập JCI, ACHS hoặc tương đương nhưng hệ thống du lịch y tế gồm nhiều loại hình có mục tiêu, phạm vi chuyên môn và mức độ rủi ro khác nhau. Đề nghị không sử dụng một bộ tiêu chuẩn chung cho mọi cơ sở mà xây dựng khung phân tầng chuyên biệt.
Bộ tiêu chí nền tảng áp dụng chung cần bao gồm pháp lý, đạo đức, an toàn, minh bạch giá, dữ liệu, bảo hiểm trách nhiệm, khiếu nại và quản lý đối tác. Trên nền tảng đó, bổ sung mô-đun riêng cho bệnh viện kỹ thuật cao; phục hồi chức năng; quản lý bệnh mạn tính và giấc ngủ; y học cổ truyền; nghỉ dưỡng – wellness; và đơn vị điều phối khách quốc tế.
Cho phép tham khảo hoặc công nhận tương đương các tiêu chuẩn phù hợp với từng loại hình, ví dụ tiêu chuẩn bệnh viện như JCI/ACHS; hệ thống quản lý chất lượng y tế ISO 7101; tiêu chuẩn chuyên biệt về du lịch y tế, phục hồi chức năng và điều phối khách quốc tế; tiêu chuẩn về cơ sở lưu trú, medical spa và phát triển bền vững.
Mỗi cơ sở chỉ được quảng bá trong phạm vi mục tiêu đã được đánh giá và phải công bố chỉ số kết quả tương ứng. Cơ sở quảng bá phục hồi sau đột quỵ phải báo cáo kết quả chức năng; cơ sở quản lý mất ngủ phải có sàng lọc, chỉ số giấc ngủ và quy trình chuyển chuyên khoa; không thể chỉ đánh giá bằng cơ sở vật chất hoặc mức độ hài lòng chung.
3. Xác định rõ sản phẩm chiến lược và lợi thế cạnh tranh quốc gia
Phần thứ hai, Mục II.2.b về mục tiêu 30 gói sản phẩm; Phần thứ ba, Mục 2.a về định hướng phát triển sản phẩm; đồng thời cụ thể hóa tại Phụ lục 1, nhiệm vụ số 10.
Dự thảo đặt mục tiêu xây dựng tối thiểu 30 gói sản phẩm nhưng chưa xác định rõ nhóm sản phẩm chủ lực, tỷ trọng ưu tiên và định vị cạnh tranh của Việt Nam. Nếu phát triển đồng đều trên quá nhiều lĩnh vực, nguồn lực sẽ bị phân tán và khó tạo thương hiệu trước các quốc gia đã định vị rõ như Singapore về kỹ thuật cao, Hàn Quốc về thẩm mỹ, Trung Quốc về y học cổ truyền hay Thái Lan về bệnh viện quốc tế kết hợp nghỉ dưỡng.
Đề nghị phân cơ cấu sản phẩm thành ba nhóm:
(1) sản phẩm chiến lược quốc gia, được dành tỷ trọng chủ yếu trong 30 gói và ưu tiên đầu tư, chuẩn hóa, xúc tiến;
(2) sản phẩm theo thế mạnh địa phương;
(3) kỹ thuật chuyên sâu có lợi thế tại một số cơ sở, phát triển có chọn lọc.
Việt Nam nên ưu tiên định vị về quản lý sức khỏe dài hạn, phục hồi chức năng và nghỉ dưỡng y khoa, tập trung vào quản lý bệnh mạn tính và đa bệnh lý; nguy cơ tim mạch – chuyển hóa – béo phì; stress, mất ngủ và các rối loạn giấc ngủ; phục hồi sau phẫu thuật, chấn thương, đột quỵ giai đoạn ổn định; chăm sóc người trung niên, người cao tuổi; kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền, dinh dưỡng, vận động và thiên nhiên.
Đề nghị lựa chọn một số chương trình đầu tàu có thời gian 7–28 ngày, quy định rõ tiêu chí đầu vào, tiêu chí loại trừ, phác đồ cá nhân hóa, chỉ số kết quả và kế hoạch theo dõi sau khi khách trở về.
Mô hình kết hợp phục hồi, chăm sóc sức khỏe và nghỉ dưỡng mở ra hướng phát triển các sản phẩm du lịch y tế dài ngày, cá nhân hóa.
4. Làm rõ tiêu chí lựa chọn địa bàn và mô hình tổ chức thí điểm
Phần thứ hai, Mục III.3.a về giai đoạn thí điểm; Phần thứ ba, Mục 2.b về mô hình thí điểm; cụ thể hóa tại Phụ lục 1, nhiệm vụ số 11 và 13.
Dự thảo lựa chọn địa bàn thí điểm dựa trên các điều kiện về năng lực y tế, kết nối quốc tế, hạ tầng lưu trú, tài nguyên du lịch và cam kết của chính quyền địa phương. Cách tiếp cận này phù hợp, nhưng cần làm rõ phương thức tổ chức thực hiện tại từng địa bàn.
Đề nghị cho phép địa phương xây dựng mô hình cụm liên kết du lịch y tế, trong đó các đơn vị tham gia đảm nhiệm từng cấu phần theo đúng chức năng, gợi ý có thể cụm liên kết du lịch y tế gồm những thành phần cơ bản sau:
- Cơ sở khám chữa bệnh chịu trách nhiệm chuyên môn;
- Cơ sở phục hồi, YHCT hoặc nghỉ dưỡng cung cấp chương trình phù hợp;
- Doanh nghiệp lữ hành, lưu trú và vận chuyển hoàn thiện hành trình;
- Đơn vị bảo hiểm, thanh toán và điều phối hỗ trợ khách quốc tế;
- Bệnh viện có năng lực cấp cứu, điều trị chuyên sâu tiếp nhận chuyển viện.
Các chủ thể phải có thỏa thuận rõ về trách nhiệm, tiêu chuẩn chất lượng, chia sẻ thông tin và xử lý sự cố. Cụm liên kết không làm giảm điều kiện của từng đơn vị, mà giúp tổ chức trọn vẹn chuỗi dịch vụ khi không một đơn vị nào có thể hoặc cần phải tự cung cấp tất cả.
Bên cạnh các đô thị có thế mạnh kỹ thuật cao, nên thí điểm thêm mô hình điểm đến phục hồi và nghỉ dưỡng y khoa tại địa phương có lợi thế về YHCT, phục hồi chức năng, thiên nhiên và khả năng lưu trú dài ngày.
5. Hoàn thiện cấu trúc gói dịch vụ và cơ chế bảo vệ người bệnh
Phần thứ ba, Mục 2.a về phát triển sản phẩm, Mục 2.d về chuỗi giá trị và Mục 3.c về chất lượng, an toàn; cụ thể hóa tại Phụ lục 1, nhiệm vụ số 9, 10 và 21.
Dự thảo đặt mục tiêu xây dựng các gói du lịch y tế chuẩn hóa nhưng chưa quy định rõ cấu trúc gói dịch vụ và trách nhiệm giữa các bên. Đề nghị cấu trúc mỗi gói theo ba nhóm:
(1) Dịch vụ y tế: Khám, chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng, quản lý sức khỏe và các hoạt động có chỉ định chuyên môn. Nhóm này phải do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện thực hiện và chịu trách nhiệm.
(2) Dịch vụ chăm sóc sức khỏe và nghỉ dưỡng: Wellness, lưu trú, dinh dưỡng, vận động, thư giãn và các tiện ích hỗ trợ phục hồi. Các dịch vụ phải được cung cấp đúng phạm vi hoạt động và không quảng bá thay thế cho khám chữa bệnh.
(3) Dịch vụ hỗ trợ hành trình: Tư vấn trước chuyến đi, quảng bá và bán sản phẩm, hỗ trợ thủ tục, đón tiễn, vận chuyển, phiên dịch, thanh toán, bảo hiểm và theo dõi sau chương trình.
Mỗi gói phải công khai đối tượng phù hợp, tiêu chí loại trừ, nội dung của từng nhóm dịch vụ, giá và khoản phát sinh, kết quả dự kiến, nguy cơ, phương án cấp cứu, chuyển viện, điều kiện thay đổi, hoàn tiền và kế hoạch theo dõi sau chương trình.
Một đầu mối có thể xây dựng, quảng bá, bán và cung cấp gói dịch vụ dưới một thương hiệu thống nhất; tuy nhiên, phải xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm đối với từng nhóm dịch vụ, đặc biệt là trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Điểm cốt lõi là khách hàng mua một sản phẩm thống nhất nhưng chất lượng, phạm vi và trách nhiệm của từng nhóm dịch vụ phải được công khai, kiểm soát và không bị hòa lẫn.
Trong một gói du lịch y tế, trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám chữa bệnh cần được xác định rõ và tách biệt với các dịch vụ hỗ trợ hành trình.
6. Công nhận mô hình đơn vị cung ứng dịch vụ du lịch y tế tích hợp
Phần thứ ba, Mục 2.d về phát triển chuỗi giá trị, Mục 3.a về trung tâm dịch vụ quốc tế và Mục 3.b về nhân lực; cụ thể hóa tại Phụ lục 1, nhiệm vụ số 12, 18 và 19.
Dự thảo chủ yếu đề cập cơ sở y tế và tổ chức trung gian điều phối, nhưng chưa phản ánh đầy đủ mô hình tổ hợp có khả năng trực tiếp tổ chức phần lớn hành trình du lịch y tế.
Đề nghị bổ sung khái niệm “đơn vị cung ứng dịch vụ du lịch y tế tích hợp”, là chủ thể có khả năng xây dựng, quảng bá, bán, cung cấp và điều phối một sản phẩm du lịch y tế hoàn chỉnh, bao gồm:
- Dịch vụ y tế được thực hiện thông qua cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện;
- Dịch vụ chăm sóc sức khỏe, wellness và nghỉ dưỡng;
- Dịch vụ hỗ trợ hành trình trước, trong và sau chương trình.
Đơn vị tích hợp được sử dụng một thương hiệu và một đầu mối giao dịch cho toàn bộ hành trình nếu đáp ứng các điều kiện:
- Trực tiếp đủ điều kiện cung cấp hoặc có liên kết hợp pháp đối với từng nhóm dịch vụ;
- Xác định rõ cơ sở chịu trách nhiệm chuyên môn y tế;
- Có hệ thống quản lý chất lượng chung và kiểm soát các dịch vụ liên kết;
- Có quy trình tiếp nhận, sàng lọc, cấp cứu, chuyển viện, quản lý dữ liệu và giải quyết khiếu nại;
- Công khai giá, phạm vi dịch vụ và trách nhiệm của từng cấu phần;
- Bảo đảm theo dõi khách hàng trước, trong và sau chương trình.
Việc công nhận mô hình này giúp phân biệt rõ:
- Cơ sở cung cấp dịch vụ thành phần: chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi dịch vụ được cấp phép;
- Đơn vị điều phối: chủ yếu kết nối khách hàng với các nhà cung cấp;
- Đơn vị cung ứng du lịch y tế tích hợp: sở hữu sản phẩm, trực tiếp cung cấp hoặc tổ chức phần lớn chuỗi dịch vụ và chịu trách nhiệm về tính thống nhất của toàn bộ hành trình.
Cách tiếp cận này tạo hành lang pháp lý cho các tổ hợp tích hợp y tế – chăm sóc sức khỏe – nghỉ dưỡng, đồng thời vẫn bảo đảm hoạt động khám chữa bệnh do cơ sở y tế đủ điều kiện chịu trách nhiệm chuyên môn.
Liên kết giữa các cơ sở y tế, đơn vị chăm sóc sức khỏe, nghỉ dưỡng và đối tác quốc tế là nền tảng hình thành chuỗi cung ứng du lịch y tế hoàn chỉnh.
7. Bảo đảm hành lang pháp lý và cơ chế hỗ trợ trước khi triển khai thí điểm
Phần thứ hai, Mục III.3.a về giai đoạn thí điểm; Phần thứ ba, Mục 1 về hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách; Phần thứ năm về tổ chức thực hiện và tiến độ các nhiệm vụ tại Phụ lục 1.
Dự thảo xác định triển khai thí điểm từ năm 2026, trong khi một số chính sách nền tảng về tiêu chuẩn công nhận, gói dịch vụ, thanh toán, dữ liệu và trách nhiệm của các bên dự kiến hoàn thành trong giai đoạn 2027–2029. Điều này có thể dẫn đến tình trạng đơn vị được lựa chọn thí điểm nhưng chưa có đầy đủ căn cứ pháp lý để xây dựng, quảng bá, ký hợp đồng và tổ chức cung cấp gói dịch vụ tích hợp.
Đề nghị ban hành khung hướng dẫn tạm thời trước khi triển khai thí điểm, tối thiểu làm rõ:
- Đối tượng, điều kiện và phạm vi được tham gia thí điểm;
- Cách công nhận cơ sở cung cấp dịch vụ thành phần và đơn vị cung ứng du lịch y tế tích hợp;
- Trách nhiệm chuyên môn, pháp lý và tài chính của từng chủ thể;
- Cấu trúc gói dịch vụ, báo giá, hợp đồng và cơ chế xử lý chi phí phát sinh;
- Yêu cầu về chất lượng, an toàn, dữ liệu, bảo hiểm, cấp cứu, chuyển viện và giải quyết khiếu nại;
- Cơ chế giám sát, báo cáo, đánh giá và dừng thí điểm khi không bảo đảm điều kiện.
Đồng thời, cần thiết lập một đầu mối liên ngành tại địa phương để tiếp nhận, hướng dẫn và giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai; tránh tình trạng doanh nghiệp phải tự xin ý kiến riêng lẻ từ nhiều cơ quan quản lý.
Trong quá trình hoàn thiện thể chế, đề nghị quan tâm đơn giản hóa thủ tục cấp, gia hạn và nhập cảnh nhiều lần cho khách cần điều trị, phục hồi hoặc tái khám và người chăm sóc đi cùng; cho phép đơn vị đủ điều kiện xác nhận tiếp nhận, hỗ trợ hồ sơ cho khách.
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu chính sách ưu đãi phù hợp đối với đơn vị có sản phẩm du lịch y tế được công nhận; đồng thời hướng dẫn rõ cách phân loại và thực hiện nghĩa vụ thuế đối với các dịch vụ giao thoa giữa y tế và wellness. Việc phân loại cần dựa trên bản chất, mục đích, chỉ định chuyên môn và chủ thể thực hiện, tránh áp chung chính sách đối với massage thư giãn và kỹ thuật xoa bóp, vận động trị liệu hoặc phục hồi chức năng được thực hiện trong phạm vi chuyên môn y tế.
Khung hướng dẫn tạm thời không thay thế hệ thống pháp luật chính thức mà tạo căn cứ để mô hình thí điểm được triển khai có kiểm soát, minh bạch và an toàn; đồng thời cung cấp dữ liệu thực tiễn phục vụ hoàn thiện chính sách và nhân rộng sau thí điểm.
Dự thảo Đề án đã hình thành được khung định hướng tương đối toàn diện cho phát triển du lịch y tế Việt Nam đến năm 2030. Để Đề án thực sự khả thi và tạo được lợi thế cạnh tranh quốc gia, cần làm rõ hơn phạm vi các loại hình; xác định nhóm sản phẩm chiến lược; áp dụng tiêu chuẩn phù hợp với từng mô hình; đồng thời công nhận vai trò của các đơn vị cung ứng dịch vụ du lịch y tế tích hợp.
Việt Nam không nên phát triển dàn trải hoặc cạnh tranh trực diện trong tất cả các lĩnh vực mà cần tập trung vào những thế mạnh có khả năng tạo dấu ấn riêng, đặc biệt là quản lý bệnh mạn tính, phục hồi chức năng, chăm sóc giấc ngủ, quản lý stress, chăm sóc người cao tuổi và nghỉ dưỡng phục hồi dựa trên sự kết hợp giữa y học hiện đại, y học cổ truyền, thiên nhiên và văn hóa Việt Nam.
Bên cạnh chất lượng chuyên môn, cần quản lý thống nhất toàn bộ hành trình khách hàng; xác định rõ trách nhiệm của từng nhóm dịch vụ; bảo đảm an toàn, minh bạch và quyền lợi người sử dụng. Giai đoạn thí điểm chỉ phát huy hiệu quả khi có khung pháp lý tạm thời, đầu mối điều phối liên ngành và các cơ chế hỗ trợ phù hợp về thị thực, đầu tư, bảo hiểm, thanh toán và thuế.
Định hướng phát triển du lịch y tế cần gắn lợi thế y tế, y học cổ truyền, phục hồi chức năng, thiên nhiên và nghỉ dưỡng để tạo dấu ấn riêng cho Việt Nam.
Với định hướng đúng đắn, tiêu chuẩn rõ ràng và cơ chế triển khai thông thoáng nhưng có kiểm soát, du lịch y tế có thể trở thành một ngành dịch vụ giá trị gia tăng cao, góp phần nâng cao vị thế y tế Việt Nam, thu hút khách quốc tế và thúc đẩy phát triển bền vững tại các địa phương.
(Trích ý kiến đóng góp xây dựng dự thảo Đề án “Phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026-2030” của Bác sĩ Nguyễn Văn Khởi - Chủ tịch HĐTV kiêm Tổng giám đốc Công ty TNHH Y tế Hoàng Mai.)